Trẻ sinh non cần một giải pháp dinh dưỡng chuyên biệt
Theo thống kê, cứ mỗi năm trên thế giới lại có tới 22 triệu trẻ sinh ra đời ở tình trạng nhẹ cân (có trọng lượng dưới 2.500 gram). Trong đó, 2/3 số trẻ này là trẻ sinh non (ít hơn 37 tuần tuổi). Riêng tại Việt Nam, cứ 1,2 triệu trẻ ra đời thì có tới hơn 100 ngàn trẻ bị sinh non .
Tại sao trẻ sinh non?
Tỉ lệ trẻ sinh non ngày càng tăng trong hai thập niên qua, bà Jacqueline Jone Wessel (chuyên gia dinh dưỡng sơ sinh) đến từ Bệnh viện Nhi Khoa Cincinnati, Ohio, Hoa Kỳ cho biết tại hội thảo “Dinh dưỡng chuyên biệt cải thiện sức khỏe trẻ sinh non và nhẹ cân” vừa diễn ra tại TP.HCM do Hội Nhi khoa Việt Nam tổ chức.
Tình trạng sinh non có thể do người mẹ bị tiền căn sinh non, tiền căn nạo thai, sảy thai, tử cung dị dạng hoặc tử cung kém phát triển hoặc do thai bị vỡ ối non, đa ối, viêm màng ối do nhiễm trùng… Ngoài ra, các yếu tố khác như: bà mẹ làm việc quá sức, sống trong môi trường độc hại, dinh dưỡng kém: mẹ có cân nặng trước sinh 40kg; mẹ quá trẻ (dưới 20 tuổi), hoặc lớn tuổi (trên 40 tuổi); mẹ hút thuốc lá, thường xuyên bị căng thẳng… cũng là những nguyên nhân quan trọng gây sinh non.
Trẻ sinh non không được hưởng những chất dinh dưỡng trong ba tháng cuối của thai kỳ (giai đoạn giúp trẻ tăng trưởng cân nặng nhanh nhất) nên sẽ gặp khó khăn trong việc ăn uống. Chế độ dinh dưỡng sơ sinh kém sẽ dẫn tới sự tăng cân và phát triển chậm. Đây là những yếu tố cũng như nguyên nhân dẫn đến tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Trẻ sinh non có thể phát triển chậm so với trẻ khác đến ba năm và cũng thường có vấn đề trong việc học và ứng xử khi trẻ đến trường.
Cần một giải pháp dinh dưỡng chuyên biệt
Dựa vào tuổi thai, cân nặng lúc mới sinh, điều kiện chăm sóc y tế, trẻ sơ sinh cần nhu cầu dinh dưỡng khác nhau tại những thời điểm khác nhau (từ lúc sinh cho tới khi xuất viện). Chẳng hạn, trẻ sinh non có nguy cơ bị thiếu hụt dinh dưỡng, phát triển chậm hơn trẻ sinh thường ở cùng độ tuổi, thiếu hụt chất đạm và năng lượng, chức năng chống oxy hóa giảm, thiếu chất sắt, thiếu hụt kẽm. Thế nhưng, khi xuất viện, trẻ sinh non thường được chăm sóc bằng sữa bột dành cho trẻ sinh thường. Tuy nhiên, những loại sữa này không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cao của trẻ sinh non để phát triển nhanh và bắt kịp trẻ sinh thường. Sữa bột cũng không thích hợp với hệ tiêu hóa còn yếu của trẻ sinh non.
Vì vậy, sữa mẹ là dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ sinh đủ tháng và rất thích hợp cho một số trẻ sinh non bởi thành phần dưỡng chất rất dễ tiêu hóa, chứa nhiều yếu tố miễn dịch giúp trẻ chống chọi với các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên, hàm lượng các chất thiết yếu như: đạm, chất béo, các vitamin và muối khoáng trong sữa mẹ không đủ để đáp ứng nhu cầu cho tốc độ phát triển “bắt kịp” của trẻ sinh non.
Các tổ chức y tế thế giới đưa ra khuyến cáo sữa mẹ và đặc biệt sữa mẹ được làm giàu dưỡng chất (Forti- fied Human Milk) là lựa chọn tốt nhất cho trẻ sinh non. Nếu không có sữa mẹ, các bà mẹ nên dùng sữa dành cho trẻ non tháng. Công thức dinh dưỡng mới cho trẻ sinh non và nhẹ cân của Abbott đã được sử dụng rộng rãi trên 30 năm và được hỗ trợ bởi các chứng cứ lâm sàng từ hơn 50 thành tựu nghiên cứu khoa học. Các nghiên cứu này không chỉ tập trung vào sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mà còn vào khả năng hấp thụ những chất dinh dưỡng trong công thức sữa của trẻ – TS. Pamela Price thuộc Trung tâm Nghiên cứu khoa học Dinh dưỡng Nhi khoa, Viện Dinh dưỡng Abbott, Hoa Kỳ, cho biết thêm.
Khi trẻ sinh non hay nhẹ cân xuất viện, nếu được chăm sóc đúng cách, tức là trẻ nhận được chế độ chăm sóc với những dưỡng chất đặc biệt, công thức dinh dưỡng hợp lý và đầy đủ trong năm đầu đời, trẻ sẽ giảm thiểu được nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng và sẽ bắt kịp với đà tăng trưởng của các trẻ sinh thường khác.
HUY THÁI
Suckhoevadoisong
Những điều cần biết về tiêu chảy cấp ở trẻ em
Ngoài lý do trẻ mắc tiêu chảy do ăn phải thức ăn có chứa vi khuẩn hay do độc tố của vi khuẩn, trẻ còn có thể mắc tiêu chảy do virut như Rotavirus… Trẻ bị bệnh do tiếp xúc trực tiếp với nguồn chứa tác nhân gây bệnh theo đường phân – miệng hoặc bàn tay – miệng. Mùa hè chính là thời gian trẻ hay bị mắc bệnh so với các thời điểm khác trong năm.
Đặc điểm nhận biết:
- Nôn và tiêu chảy là các đặc điểm nổi bật của tiêu chảy cấp do Rotavirus.
- Nôn thường xuất hiện trước tiêu chảy 6 – 12 giờ và có thể kéo dài khoảng 2 – 3 ngày.
- Trẻ nôn rất nhiều vào ngày đầu và giảm bớt khi bắt đầu đi tiêu chảy.
- Phân lỏng toàn nước, có lúc hoa cà hoa cải, có thể có nhầy mũi nhưng không có máu.
- Tiêu chảy ngày càng tăng trong vài ngày, sau đó giảm dần.
- Đa số các trẻ sẽ hết tiêu chảy sau 4 – 8 ngày.
- Tuy nhiên có thể có trẻ vẫn còn tiêu chảy đến 2 tuần dù đã khỏe, chơi, đòi ăn trở lại.
- Trẻ có sốt vừa phải, đau bụng, có thể có ho và chảy mũi.
- Vì vừa bị ói và tiêu chảy nhiều, trẻ bị nhiễm Rotavirus rất dễ bị mất nước nếu không được chăm sóc thích hợp.
- Biến chứng nguy hiểm và trầm trọng của bệnh là khô kiệt do mất nước và mất muối, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được bù nước kịp thời.
- Các biểu hiện của mất nước bao gồm: khát nước, môi khô, lưỡi khô, da khô, đi tiểu ít, quấy khóc, kích thích. Khi thấy trẻ có các biểu hiện trên lập tức phải đưa trẻ đến bệnh viện ngay.
Xử trí tiêu chảy cấp do Rotavirus:
Tiêu chảy cấp Rotavirus do virut gây ra, vì vậy kháng sinh không có tác dụng đối với bệnh. Ở thể nhẹ, không có biến chứng, bệnh thường tự khỏi sau 3 – 8 ngày. Việc điều trị bệnh chủ yếu là đề phòng biến chứng mất nước, bù nước và muối khi trẻ bị mất nước.
Lưu ý những điểm sau đây:
– Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường. Có thể dùng nước đun sôi để nguội, nước canh rau, nước dừa tươi hoặc các chế phẩm bù nước và điện giải bằng đường uống như oresol (ORS), hydrite, lưu ý dung dịch ORS có độ thẩm thấu thấp.
- Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng như bình thường, phù hợp theo lứa tuổi của trẻ. Nên chia nhỏ bữa ăn làm nhiều lần, cho trẻ ăn bằng thìa vì trẻ dễ bị nôn. Nếu trẻ nôn, cho trẻ nghỉ một chút rồi cho ăn lại.
- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ, nếu trẻ bú bình thì cần vệ sinh bình, núm vú và dụng cụ pha sữa kỹ trước mỗi cữ bú, sữa được pha theo số lượng như trẻ vẫn bú lúc không bị tiêu chảy, không được pha loãng hơn, không nên đổi loại sữa khác. Tương tự như việc cho ăn, nên cho trẻ bú từng ít một, nhiều lần trong ngày.
- Theo dõi số lần đi ngoài, số lượng phân, màu phân, khả năng uống bù nước và ăn uống của trẻ.
- Theo dõi phát hiện các dấu hiệu mất nước để kịp thời đưa trẻ nhập viện.
- Tuyệt đối không dùng thuốc cầm tiêu chảy cho trẻ vì các thuốc này làm giảm nhu động ruột, làm liệt ruột khiến phân không được thải ra ngoài chứ không có tác dụng kháng virut – nguyên nhân gây nên tiêu chảy. Do đó trẻ vẫn tiếp tục bị tiêu chảy, mà phân không được bài xuất ra ngoài, ứ đọng lại trong ruột gây trướng bụng, biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong…
- Tránh kiêng khem quá mức như không cho trẻ uống sữa, chỉ cho trẻ ăn cháo trắng với muối sẽ khiến trẻ dễ bị bệnh nặng hơn. Phòng bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ: Rửa tay cho trẻ và người chăm sóc trẻ, rửa tay là cách tốt nhất để phòng bệnh. Khi trong gia đình có trẻ bị tiêu chảy, phân của trẻ bị tiêu chảy phải được thu gom xử lý tránh để tiếp xúc lây lan sang trẻ khác.
ThS. Nguyễn Thanh Lâm (Báo Sức khoẻ & Đời sống)
Sữa mẹ và sức khỏe của bé
Con người ta ngay từ khi sinh ra đã cần được nuôi dưỡng, đối với trẻ, dòng sữa mẹ đã giúp trẻ lớn lên ngay từ những ngày tháng đầu đời. Thị trường ngày nay có rất nhiều loại sữa thay thế nhưng không thể có loại nào hoàn hảo bằng sữa mẹ. Ta hãy nhìn vào bảng so sánh giữa sữa mẹ và sữa bò để thấy được những ưu việt đó. Sữa mẹ đã được xác nhận là một thức ăn hoàn hảo nhất trong 6 tháng đầu đời của trẻ và là một phần thức ăn trong chế độ ăn bổ sung khi trẻ sau 6 tháng bởi vì nó chứa hầu hết protein và chất béo phù hợp tiêu hóa của trẻ, chứa nhiều đường lactose cần cho trẻ nhỏ lại đủ các vitamin và khoáng chất, nước. Dù lượng sắt không nhiều nhưng dễ hấp thu nên trẻ bú mẹ trong 6 tháng đầu không bị thiếu máu.
Sữa mẹ bảo vệ trẻ chống lại nhiễm khuẩn: Sữa mẹ sạch, không có vi khuẩn lại chứa nhiều kháng thể chống lại nhiều loại vi khuẩn khác nhau, các tế bào bạch cầu diệt vi khuẩn. Có yếu tố bifidus giúp cho loại vi khuẩn Lactobicillus bifidus phát triển trong ruột trẻ, vi khuẩn này ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn có hại gây tiêu chảy. Sữa mẹ chứa lactoferin vận chuyển sắt, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn có hại cần sắt. Vì thế một đứa trẻ được bú mẹ thì ít bị tiêu chảy, viêm đường hô hấp và viêm tai giữa hơn trẻ nuôi nhân tạo khi ốm vẫn tiếp tục bú mẹ thì phục hồi nhanh hơn. Ngay cả trong năm thứ 2, thứ 3, sữa mẹ vẫn giúp trẻ ngăn ngừa bệnh tật và phục hồi sức khỏe nhanh.
Những ưu thế khác của nuôi con bằng sữa mẹ:
- Tăng cường sự gắn bó, tình thương yêu giữa mẹ và con, giúp trẻ phát triển bình thường.
- Tăng cường sức khỏe cho mẹ:
+ Giúp ngừng chảy máu sau đẻ nhanh, co hồi tử cung nhanh.
+ Mẹ chóng phục hồi sức khỏe.
+ Bú mẹ thường xuyên giúp tránh thai.
- Thuận tiện:
+ Sữa mẹ luôn có sẵn, không phải chế biến.
+ Sữa mẹ không bao giờ bị chua, hỏng ở trong vú, thậm chí ngay cả khi người mẹ không cho con bú trong vài ngày.
+ Sữa mẹ không phải mua nên không tốn kém.
+ Sữa mẹ hoàn toàn dành cho con, không ai chia sẻ sữa mẹ cho người khác.
Như vậy ta biết sữa mẹ quan trọng biết nhường nào với trẻ, lời khuyên duy nhất là các bà mẹ hãy nuôi con bằng dòng sữa quý báu của mình, đừng vì những lời quảng cáo hoa mỹ của các loại sữa trên thị trường mà thay sữa mẹ bằng các loại sữa thay thế khác.
| Sữa người | Sữa bò | |
| Nhiễm vi khuẩn Những yếu tố chống nhiễm khuẩn | Không Kháng thể Bạch cầu Yếu tố bifidus | Rất có thể Không hoạt động Không có |
| Chất đạm Toàn phần Axít amin: Cystine Taurine | 1% Đủ cho sự phát triển của não bộ | 4% quá nhiều Không đủ |
| Chất béo Toàn phần Sự bão hòa của axít béo Axit linoleic (cần thiết) Cholesterol Men Lipase để tiêu hóa chất béo | 4% (trung bình) Đủ để không bão hòa Đủ cho sự phát triển của não bộ Đủ Có | 4% Quá nhiều Không đủ Không có |
| Chất đường Lactose | 7% đủ | 3-4% không đủ |
| Muối (mEq/l) Natri Clo Kali | 6,5 số lượng vừa đủ 12,0 số lượng vừa đủ 14,0 số lượng vừa đủ | 25 quá nhiều 29 quá nhiều 35 quá nhiều |
| Yếu tố khoáng (mg/l) Canxi Phosphate Sắt | 350 số lượng vừa đủ 150 số lượng vừa đủ Số lượng ít, dễ hấp thu Đủ nhu cầu trẻ dưới 6 tháng | 1.400 quá nhiều 900 quá nhiều Số lượng ít, kém hấp thu Không đủ nhu cầu |
| Các loại Vitamin Nước | Đủ Không cần thêm nước | Không đủ Có thể không đủ, cần thêm nước |
BS. Phạm Thị Thục
(Giảng viên quốc gia CT sữa mẹ)
Chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp bé phát triển chiều cao
Sau 6 tháng đầu đời được bú mẹ hoàn toàn, chế độ dinh dưỡng hợp lý từ khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung đến trước tuổi dậy thì là giai đoạn quan trọng cho việc tăng trưởng chiều cao.
Chế độ dinh dưỡng giúp bé phát triển chiều cao
Bên cạnh yếu tố di truyền, chiều cao của con người còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố dinh dưỡng (32%), rèn luyện thể lực (20%) và môi trường sống (chế độ ngủ, nghỉ, vui chơi…). Đặc biệt, trong cùng một gia đình, thế hệ sau có thể có chiều cao vượt hơn thế hệ trước nếu được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt. Do đó, muốn trẻ tăng trưởng tốt, cha mẹ cần thường xuyên thúc đẩy chiều cao đúng cách theo từng giai đoạn phát triển với chế độ dinh dưỡng hợp lý.
Khi bắt đầu ăn bổ sung, bé cần được cung cấp chế độ ăn đủ năng lượng, protein, các vitamin và khoáng chất thiết yếu. Trong đó, canxi (thành phần thiết yếu cấu tạo nên xương và răng) và vitamin D (chất giúp canxi hấp thu vào xương tốt hơn) là 2 chất nên được quan tâm hàng đầu.
Để cung cấp cho bé đầy đủ lượng canxi mỗi ngày, bên cạnh các thức ăn như cua biển, hoa atisô, tỏi tây, súp lơ xanh,quả kiwi, chuối… mẹ cần bổ sung cho bé những thực phẩm giàu canxi tự nhiên như sữa và phô mai. Hai ly sữa hoặc hai viên phô mai mỗi ngày cùng chế độ vận động hợp lý sẽ giúp bé bổ sung canxi, phát triển, tăng chiều cao. Đặc biệt, loại phô mai có bổ sung vitamin D sẽ là nguồn thực phẩm hỗ trợ sự phát triển chiều cao của bé.
Bảng tổng hợp hàm lượng canxi trong thực phẩm thường dùng:
| Thực phẩm (100 g) | Hàm lượng canxi trong 100g thực phẩm (mg %) |
| Tôm đồng | 1.120 mg |
| Cua đồng | 5.040 mg |
| Cua đồng giã gạn lọc lấy nước | 120 mg |
| Tép khô | 2.000 mg |
| Ốc bươu | 1.310 mg |
| Cá thu | 50 mg |
| Gan lơn | 7 mg |
| Lòng đỏ trứng vịt: | 146 mg |
| Phô mai | 760 mg |
| Sữa | 120 mg |
GS. TS . Nguyễn Lân Dũng
Chuyên gia cao cấp Viện Vi sinh Vật & công Nghệ sinh Học – ĐH Quốc Gia Hà Nội
Nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của trẻ em
Thế nào là chế độ dinh dưỡng cân đối và hợp lý dành cho trẻ?
Thực đơn dinh dưỡng dành cho bé mỗi ngày
| Độ tuổi | Tỷ lệ cung cấp năng lượng/nhu cầu năng lượng tổng số) (%) | |||||
| Chất bột đường | Chất đạm | Chất béo | Vitamin và khoáng chất | |||
| Canxi | Phốt pho | Vitamin A | ||||
| 1 – 3 ( tuổi) | 45-53% | 12-15% (35-44g) trong đó cần ≥60% chất đạm động vật | 35-40% tối đa 50% | 500m
| 460mg
| 400mcg |
| 4 – 6 ( tuổi) | 60-68% | 12-15% (44-55g) trong đó cần ≥50% chất đạm động vật | 20-25% tối đa 30% | 600mg
| 500mg
| 450mcg |
| 1 ly sữa (180ml/ ly) mỗi ngày cung cấp cho bé: 7g chất đạm; 7.9g chất béo; 8.4g chất bột đường; 216mgCalcium, 90mcg vitamin A và cho bé năng lượng là 133Kcal 2 viên phô mai mỗi ngày (15g/ viên) cung cấp cho bé: : 7.7g chất đạm; 9.3g chất | ||||||
Đa dạng thực đơn với những thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng
Theo PGS.TS.BS Lê Bạch Mai, nhằm cung cấp đầy đủ những chất dinh dưỡng thiết yếu, mẹ cần đa dạng bữa ăn cho bé. Thực đơn không chỉ cần có đủ các nhóm thực phẩm mà còn cần nhiều loại thực phẩm trong mỗi nhóm và bổ sung cho bé các thực phẩm giàu dinh dưỡng như sữa và phô mai bên cạnh các bữa ăn hàng ngày. Sữa và phô mai là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng chứa nhiều prôtêin (chất đạm) giá trị sinh học cao, lipid (chất béo), giàu canxi và vitamin A. Đây là các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, đóng vai trò rất quan trọng với sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.
Ở nước ta, sữa đã trở nên gần gũi và khá quen thuộc như một thực phẩm dành riêng cho trẻ em. Vì thế, nhiều mẹ lựa chọn sữa bổ sung vào thực đơn hàng ngày của bé. Còn phô mai, một thức ăn hoàn toàn được chế biến từ sữa, lại ít được sử dụng phổ biến nên một số mẹ chưa hiểu hết giá trị dinh dưỡng của loại thực phẩm này. Thực tế, phô mai với thành phần chủ yếu là ca-sê-in, loại prôtêin tốt nhất của sữa, nên cũng sở hữu các đặc tính ưu việt. Phô mai có vị thơm dịu của sữa và mềm mịn, dễ ăn có thể dùng chung với các thức ăn khác như bột, cháo, bánh mỳ, quả chín hoặc ăn riêng nên là một loại thức ăn khoái khẩu và bổ dưỡng cho các bé.
Ngoài ra, phô mai còn cung cấp một lượng canxi đáng kể. Với cùng trọng lượng như nhau thì hàm lượng canxi trong phô mai gấp 6 lần trong sữa; đồng thời tỷ lệ tự nhiên giữa canxi với phốt pho ở phô mai là 1.8 rất thích hợp cho hấp thu canxi và sự có mặt của vitamin D có tác dụng tốt cho hấp thu canxi vào xương. Phô mai còn tốt cho các trẻ không uống được sữa do bất dung nạp đường lactose. Đường lactose đã được lên men bởi vi sinh vật đặc biệt hoặc xử lý với enzim (trong nhũ thanh-lactoserum) trong quá trình làm phômai. Do đó, phô mai thường thân thiện hơn với hệ tiêu hóa của các em, đặc biệt là khi cho trẻ ăn dặm (ăn bổ sung).
Cũng theo PGS.TS.BS Lê Bạch Mai, nếu cha mẹ cho bé ăn khoảng 30g phô mai mỗi ngày sẽ cung cấp các chất dinh dưỡng tương tự như uống 1 ly sữa (180ml– 200ml), giúp bổ sung năng lượng và dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển toàn diện cả về thể lực lẫn trí tuệ. Đồng thời, lượng canxi dồi dào về số lượng, cân đối với phốt pho cùng vitamin D có trong phô mai sẽ rất tốt cho sự phát triển, tăng chiều cao của bé. Ngoài ra có thể sử dụng một số sản phẩm thực phẩm chức năng có tác dụng kích thích ăn uống với các trẻ biếng ăn.
Trẻ mắc bệnh hô hấp hàng loạt vì thời tiết chuyển mùa
Nhà gần Viện nhi trung ương, đến từ buổi sáng, nhưng chị Lành phải chen chúc lấy số, xếp sổ rồi tất tả đưa cậu con 3 tuổi đi khám, làm xét nghiệm… và đợi tới chiều mới biết kết quả vì số trẻ đến viện quá đông.
Đường vào Viện nhi trung ương sáng 6/4 tắc nghẽn vì vô số taxi, xe máy đưa trẻ vào viện khám. Đến tận giờ nghỉ trưa, trước cửa các phòng khám hô hấp, tai mũi họng, cấp cứu hay nơi làm xét nghiệm máu… vẫn nườm nượp người ra kẻ vào.
Gần 12 giờ trưa, anh Bằng (Bắc Ninh), ngồi trước cửa phòng khám đa khoa và chuyên khoa hô hấp, cho biết, từ tờ mờ sớm nay, vợ chồng anh gọi xe đưa con xuống viện khám mà đã thấy rất đông người đến trước.
“Bé ho nhiều, sốt, quấy, ăn vào lại nôn. Sáng cố đi sớm cho vắng để được khám nhanh, trưa về luôn, thế mà vẫn không kịp vì đông quá. Chắc phải hết chiều nay mới xong”, anh Bằng kể.
Ông Cấn Phú Nhuận, Trưởng khoa khám bệnh, Bệnh viện Nhi trung ương cho biết, gần một tuần nay, hôm nào các phòng khám cũng quá tải vì quá đông bệnh nhân. Đa số trẻ tới khám vì mắc các bệnh về viêm đường hô hấp, có các biểu hiện như sốt cao, phát ban, ho kéo dài, nôn…
Gần 12 giờ trưa nhưng vẫn rất đông phụ huynh xếp hàng mua phiếu khám bệnh cho con tại Viện nhi trung ương. Ảnh: Minh Thùy.
Theo bác sĩ, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do sự thay đổi thời tiết liên tục trong thời gian gần đây. “Kể cả nắng nóng kéo dài, hay trời rét đậm lâu cũng không hại bằng thời tiết kiểu này. Cuối tháng 4 rồi mà trời vẫn lạnh, rồi nhiệt độ thay đổi liên tục, có khi đầu tuần nóng, nồm, cuối tuần lại hanh khô, hay sáng nóng, chiều lạnh… khiến trẻ – vốn có hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh – không kịp thích ứng, đổ bệnh là chuyện dễ hiểu”, ông giải thích.
Bác sĩ cho biết, cùng với sự thất thường của nhiệt độ giai đoạn chuyển mùa, môi trường sống nhiều khói bụi, ô nhiễm cũng là một trong những nhân tố khiến nhiều trẻ dễ bị viêm nhiễm hô hấp.
Còn theo ông Lê Thanh Hải, phó giám đốc Bệnh viện Nhi trung ương, số bệnh nhân đến khám và phải nhập viện mấy ngày nay tăng đột biến. Từ đầu tuần đến nay, mỗi ngày có hơn 2.500 bệnh nhi đăng ký khám và 1.200 trẻ điều trị nội trú tại các khoa, đông nhất là khoa hô hấp, trong khi thường ngày số bệnh nhi khám chỉ xấp xỉ 2.000 và nằm viện là 1.000 em.
Không chỉ ở Bệnh viện Nhi Trung ương, tại các nơi khác, như khoa nhi ở Bệnh viện Bạch Mai, khoa hô hấp nhi ở Bệnh viện Xanh Pôn, cũng xảy ra tình trạng quá tải do trẻ mắc các bệnh hô hấp tăng vọt.
“Hầu như thời điểm chuyển mùa nào số cháu vào viện cũng đông hơn, riêng ngày hôm nay, số trẻ vào khám không ngớt, nhiều hơn hẳn mọi khi, dù chúng tôi còn chưa kịp thống kê là bao nhiêu”, một bác sĩ khoa hô hấp nhi, Bệnh viện Xanh Pôn cho biết.
Theo bác sĩ Lê Thanh Hải, để giảm nguy cơ trẻ nhiễm bệnh trong điều kiện thời tiết giao mùa hiện nay, các bậc phụ huynh nên tránh cho con đến nơi đông người, tới những nơi khói bụi, có gió lùa. Khi ra ngoài cần cho trẻ mặc phù hợp với nhiệt độ môi trường, che chắn bằng khẩu trang để tránh hít phải không khí ô nhiễm. Với trẻ nhỏ, cần tích cực cho bú mẹ để nâng cao sức đề kháng, trẻ lớn hơn cần được ăn uống đủ chất, hợp lý, kết hợp với việc tiêm phòng đầy đủ. Không gian sống của trẻ cũng phải được vệ sinh sạch sẽ, thoáng khí, tránh có khói thuốc lá.
“Khi trẻ có các dấu hiệu như sốt, ho, nôn, trớ hay diễn biến bệnh nặng nhanh, cần phải đưa con đi khám, không tự ý mua thuốc cho trẻ uống bởi không những không tác dụng mà còn có thể gây tai biến”, bác sĩ Hải lưu ý.
Minh Thùy
Vnexpress
Đừng để trẻ thiệt thòi vì thiếu vi chất!
Bất cứ người mẹ nào cũng muốn điều tốt nhất cho con của mình. Trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày, họ luôn dành cho con cái những món ăn ngon thơm ngon, bổ dưỡng nhất, chỉ với mong muốn con cái khỏe mạnh và phát triển toàn diện.
Tuy nhiên, có đôi lúc chế độ dinh dưỡng hiện tại chưa cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho trẻ. Có những chất chỉ cần “một chút” thôi, nhưng nếu thiếu thì sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng.
Chỉ cần “một chút”, nhưng thiếu thì…
Vi chất bao gồm các vitamin tan trong nước như vitamin nhóm B, C, các vitamin tan trong chất béo là vitamin A, D, E, K, và các chất khoáng như Sắt, Kẽm, Iốt, Đồng, Mangan, Magiê… Điểm đặc thù của vi chất là cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu sẽ dẫn đến những ảnh hưởng lớn, xáo trộn quá trình phát triển bình thường của trẻ. Ngoài ra, những chất này có một điểm đáng lưu ý nữa là cơ thể không tự tổng hợp được mà chỉ có thể bổ sung thông qua chế độ dinh dưỡng hàng ngày.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới có khoảng 3 triệu trẻ em bị khô mắt và có tới 251 triệu trẻ bị thiếu vitamin A. Một nghiên cứu mới nhất do Viện Dinh dưỡng Việt Nam thực hiện trên diện rộng ở trẻ em từ 2-5 tuổi khắp 63 tỉnh thành cả nước cho thấy: Tỷ lệ trẻ thiếu vitamin A lên đến 14%. Lượng vitamin A trong khẩu phần ăn chỉ đáp ứng được 65% nhu cầu của trẻ. Thậm chí ở các tỉnh vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên, con số này giảm xuống chỉ còn 34 và 36%.
Bác sỹ Đào Thị Yến Thủy, Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM cho biết: “Thiếu vitamin A làm ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, nhất là khi nhìn trong điều kiện ánh sáng nhẹ (quáng gà), dễ đưa đến khô mắt và mù mắt nếu tình trạng thiếu kéo dài. Không những thế, đáng lo ngại hơn, thiếu vitamin A còn gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cơ thể trẻ, làm giảm sức đề kháng, khô da và dễ mắc bệnh nhiều hơn”.
Tương tự vitamin A, Canxi, Kẽm, Magiê… cũng là những vi chất trẻ rất dễ thiếu hụt. Đơn cử như theo kết quả nghiên cứu nói trên của Viện Dinh dưỡng Việt Nam, tỷ lệ trẻ thiếu Kẽm từ 15% đến 30%, thiếu Magiê lên đến 59,5%. Khảo sát thông qua khẩu phần ăn của trẻ cũng cho thấy: Lượng Canxi trong khẩu phần ăn của trẻ vùng núi phía Bắc chỉ đạt 49%. Con số này ở Tây Nguyên là 76% và ở vùng ven biển bắc miền Trung là 88%.
Ảnh hưởng dễ thấy của việc thiếu những vi chất này là trẻ chậm lớn, thấp còi, vóc dáng nhỏ bé. Ở mức độ nặng, ví dụ như thiếu Canxi, trẻ sẽ xuất hiện những biến dạng ở xương như bị lép ngực, chân vòng kiềng…
Cách bảo vệ mũi cho trẻ
Theo các bác sỹ, việc rửa mũi hàng ngày cho bé là rất cần thiết. Mũi bé sạch sẽ giúp phòng ngừa các bệnh đường hô hấp và hạn chế mắc bệnh viêm xoang khi đến tuổi trưởng thành.
Tuy nhiên không phải bà mẹ nào cũng biết cách rửa mũi đúng cách cho bé. Dưới đây là lời khuyên của các chuyên gia.
Các bậc phụ huynh nên rửa mũi cho bé tốt nhất là trước bữa ăn và trước khi đi ngủ. Trong giấc ngủ dài ban đêm, nếu mũi bé có nhiều bụi bẩn, nước mũi,… sẽ là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.
Việc rửa mũi cho bé cũng rất đơn giản. Chỉ cần dùng một chiếc bông vệ sinh tai để vệ sinh mũi cho bé. Tuy nhiên các ông bố bà mẹ đừng quên tẩm một chút nước muối sinh lý để rửa mũi cho bé. Nước muối vừa làm sạch vi khuẩn và tạo độ ẩm cho mũi, tránh cho bé bị đau khi được vệ sinh mũi.
Ngoài ra, các bậc phụ huynh có thể dùng lọ xịt nước muối biển để vệ sinh mũi cho bé. Để lọ xịt gần mũi bé, ấn mạnh, nước muối sẽ vào sâu bên trong mũi bé. Những bụi bẩn sẽ theo nước muối này chảy ra ngoài. Dùng giấy ăn mềm hoặc giấy ướt lau cho bé sau đó vứt đi.
Các bậc cha mẹ cũng cần lưu ý vệ sinh tay trước và sau khi vệ sinh mũi cho bé bằng giấy ướt hoặc xà phòng. Lựa chọn chế độ dinh dưỡng phù hợp với sức khỏe bé.
Ngoài ra, để bảo vệ mũi bé, bạn nên giữ phòng của trẻ em luôn được ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè.
Dung Nhi
Theo fr
Trẻ dưới 10 tuổi không nên ăn gì?
Những lưu ý dưới đây sẽ giúp bạn hoàn thiện chế độ dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ:
Trước 3 tháng tuổi không nên ăn mặn
Trẻ dưới 3 tuổi không phải là không cần muối mà là đã hấp thụ được đầy đủ lượng muối từ sữa mẹ hoặc sữa bò.
Sau 3 tháng, cùng với sự lớn lên và phát triển, chức năng thận của trẻ dần dần được kiện toàn, lượng muối cũng theo đó mà dần dần tăng lên, lúc này có thể cho trẻ ăn một chút ít.
Nguyên tắc là sau 6 tháng, lượng muối cho trẻ ăn hàng ngày phải được khống chế ở dưới 1g.
Dưới 1 tuổi không nên ăn mật ong
Quần thể vi khuẩn bình thường trong đường ruột của trẻ em dưới 1 tuổi vẫn chưa hoàn toàn được thiết lập. Nếu cho trẻ ăn mật ong sẽ rất dễ gây ra viêm nhiễm. Trẻ sẽ xuất hiện các triệu chứng như buồn nôn, nôn ọe, đau bụng đi ngoài….
Dưới 3 tuổi không nên uống trà
Trẻ dưới 3 tuổi không nên uống trà. Chất tannin trong trà sẽ can thiệp vào sự hấp thụ của sắt, kẽm, canxi và khoáng chất, protein trong thức ăn trong cơ thể, làm cho trẻ thiếu protein và khoáng chất từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ.
Dưới 5 tuổi không nên uống thuốc bổ
Dưới 5 tuổi là thời kỳ phát triển quan trọng của trẻ, trong thuốc bổ hàm chứa nhiều hooc-môn hoặc chất giống như hooc-môn có thể làm cho hai đầu ống xương của trẻ
khép lại sớm, kết quả là trẻ bị lùn, trẻ lớn nhưng không phát triển chiều cao, đồng thời hooc-môn sẽ can thiệp vào hệ thống phát triển của trẻ làm cho trẻ phát triển và già trước tuổi.
Ngoài ra, khi còn nhỏ uống thuốc bổ còn có thể gây ra chảy máu lợi, khát nước, táo bón, huyết áp tăng cao, chướng bụng….
Dưới 10 tuổi không nên ăn thực phẩm muối
Có hai nguyên nhân để trẻ dưới 10 tuổi không nên ăn thực phẩm muối, đó là thực phẩm muối cá muối, thịt muối, rau dưa muối) chứa một lượng muối rất cao, những thực phẩm có lượng muối cao rất dễ gây ra bệnh cao huyết áp cho trẻ sau này.
Nguyên nhân thứ hai là trong những thực phẩm muối có chứa chất Nitrit, chất gây ra ung thư. Theo tài liệu nghiên cứu chỉ rõ, những trẻ em dưới 10 tuổi bắt đầu ăn thực phẩm muối, sau khi trưởng thành thì khả năng bị ung thư cao gấp 3 lần so với những trẻ em thông thường khác, đặc biệt nguy cơ gây ra ung thư cổ họng là rất cao.
Dương Hằng
Theo healthoo
Source: Báo Dân Trí
Những biểu hiện không đáng lo lắng ở trẻ sơ sinh
Lồng ngực của trẻ sơ sinh thường nhỏ, do vậy, quá trình trao đổi khí thường ít hơn. Số lần hô hấp bình thường ở trẻ sơ sinh là 40-50 lần/phút. Ngoài ra, hệ thần kinh của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh, nên nhịp thở của trẻ cũng không đều, đặc biệt là trong khi ngủ.
Nôn trớ
Hắt hơi, ngạt mũi nhẹ
| |
Đây không phải là biểu hiện của bệnh cảm cúm. Ở trẻ sơ sinh, lớp niêm mạc mũi chưa phát triển hoàn thiện, do vậy không khí bên ngoài hoặc 1 vài cặn sữa có thể gây phản xạ hắt hơi hoặc nghẹt mũi nhẹ ở trẻ. Đây chính là biểu hiện sinh lý tự vệ của trẻ, chứ không phải do bị nhiễm lạnh hoặc cảm cúm.
Ra mồ hôi chân, tay
| |
Nhiều tóc hoặc ít tóc
Nếu thấy tóc trẻ quá ít, kèm theo đó là các hiện tượng như đổ mồ hôi nhiều, hay hoảng sợ khi ngủ, ngủ ít, bỏ ăn… thì bạn nên cho trẻ đi khám bác sỹ để có được lời khuyên hợp lý. Vì khi đó, rất có thể trẻ đang bị thiếu canxi, thiếu sắt hoặc thiếu máu.
Sưng tuyến vú
Bất luận là trai hay gái, trẻ sau 3-5 ngày sinh thường xuất hiện nốt nhỏ như hạt đậu, sờ vào thấy mềm và bóp nhẹ có thể ra sữa. Điều này là do ảnh hưởng từ nội tiết tố estrogen của mẹ. Hiện tượng này sẽ mất sau 2-3 tuần.
| |
Chảy máu âm đạo ở bé gái
Một số bé gái sau khi sinh 1 tuần, ở âm đạo có thể chảy một ít máu hoặc chất nhầy màu trắng do thai nhi vẫn chịu ảnh hưởng nội tiết tố của người mẹ và nội mạc tử cung đã bắt đầu phát triển.
Giải pháp cho chứng biếng ăn ở trẻ!
Trên thế giới, khoảng 50% trẻ từ 1-6 tuổi mắc chứng biếng ăn, còn ở Việt Nam, tỷ lệ này khoảng từ 20-45%. Trẻ biếng ăn là một trong những chủ đề nóng hổi trên các diễn đàn hiện nay và là điều khiến các bà mẹ trẻ lo lắng.
Nguyên nhân khiến trẻ biếng ăn?
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng biếng ăn ở trẻ như: trẻ bị ép ăn lượng thức ăn quá nhiều trong 1 ngày, do thói quen ăn uống không có giờ giấc nhất định hoặc trẻ ăn vặt quá nhiều trước bữa ăn chính… Thậm chí do đồ ăn quá nhiều dinh dưỡng hoặc không hợp khẩu vị cũng gây ra hiện tượng biếng ăn ở trẻ.
Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc trẻ biếng ăn là do trẻ mắc một số bệnh viêm nhiễm đường hô hấp như cảm cúm, viêm phế quản, ho… Các chứng bệnh này thường gặp ở trẻ nhỏ (từ 2 đến 8 tuổi).Đặc biệt, ở lứa tuổi này, trẻ hay bị ra mồ hôi trộm vào ban đêm, nhất là khi thời tiết thay đổi. Nếu cha mẹ không chú ý và lau khô ngay, trẻ sẽ bị nhiễm lạnh và mắc các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, tình trạng biếng ăn lại xảy ra.
Làm gì để trẻ hết mồ hôi trộm?
Mồ hôi trộm là hiện tượng xảy ra khi trẻ ở trong trạng thái ngủ nghỉ, không vận động, không liên quan đến nhiệt độ môi trường nhưng mồ hôi vẫn túa ra liên tục ở đầu và lưng. Khi mồ hôi ra quá nhiều và liên tục làm mất một lượng nước và muối sẽ khiến cơ thể suy kiệt, chưa kể mồ hôi ngấm vào quần áo, rất dễ làm bé bị cảm lạnh, mắc các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp như viêm phổi, viêm phế quản. Và như thế trẻ dễ rơi vào vòng bệnh luẩn quẩn: Ra mồ hôi trộm -> nhiễm lạnh -> viêm nhiễm đường hô hấp -> biếng ăn -> cơ thể suy yếu -> trẻ dễ ra mồ hôi trộm.
Để giúp trẻ thoát được chứng biếng ăn, các bà mẹ cần cho trẻ ăn đúng giờ, ăn đúng khẩu phần. Cho trẻ ăn những thức ăn dễ tiêu hóa, giàu dinh dưỡng, ấm và nấu nhừ, không ăn đồ ăn sống, lạnh hay những món xào quá béo, đặc biệt không nên ép trẻ ăn quá no. Để đối phó với mồ hôi trộm, nên cho trẻ ăn các món có tác dụng bổ âm như cháo trai, canh cá quả, canh rau ngót, chè đậu xanh, đậu đen… Bên cạnh đó, cần cho trẻ dùng thêm các thuốc bổ dưỡng có khả năng ngăn ngừa mồ hôi trộm và giúp bé hết biếng ăn.
Thông tin sản phẩm: Cốm bổ trẻ em, tăng chiều cao, kick thích ăn uống – CataKid
Cha mẹ nên làm gì khi phát hiện độc tố trong thức phẩm của trẻ
Thông tin phát hiện thạch tín, chì và cadmium trong thực phầm dành cho trẻ khiến không ít cha mẹ lo lắng và thắc mắc. Dưới đây là giải đáp của các chuyên gia y tế đăng tải trênTelegraph online:
Những chất này nhiễm vào thực phẩm như thế nào?
Thạch tín, cadmium và chì được tìm thấy trong đất với nồng độ thấp. Ở một số nơi nó là tự nhiên nhưng 1 số nơi khác là do con người. Các loại thực vật có thể hấp thụ những chất này trong quá trình phát triển và gạo đặc biệt dễ bị nhiễm thạch tín và tích lũy ở mức cao
Các nguy cơ gặp phải?
Những vùng tập trung nhiều thạch tín sẽ có độc tính cao nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy ngay cả ở mức độ thấp nó cũng có thể gây ung thư và tổn thương não.
Ngoài ra, còn có những bằng chứng cho thấy nó có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trẻ sơ sinh. Cadmium là độc chất đối với thận. Khi tích tụ trong cơ thể, nó còn làm xương giòn, dễ gãy và có những nghiên cứu cho thấy nó làm tăng nguy cơ ung thư phổi, bàng quang và ngực. Các nhà chức trách trong lĩnh vực y tế cũng tỏ ra lo ngại rằng các chất này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí não, dù ở mức thấp, ở trẻ nhỏ.
Những vùng bị ảnh hưởng?
Ủy ban châu Âu, áp dụng khuyến nghị của Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu (EFSA), đã thiết lập các quy định về giới hạn an toàn đối với nhiều kim loại độc hại và chất gây ô nhiễm trong thực phẩm.
Đối với thạch tín, mức tiếp xúc an toàn hằng ngày là 2 microgam/kg cân nặng.
Tuy nhiên, EFSA gần đây đã đưa ra một đánh giá rủi ro mới nhằm khuyến nghị mức giới hạn này phải thấp hơn nữa. Đánh giá này cũng cảnh báo rằng những trẻ dưới 3 tuổi tiếp xúc với hàm lượng thạch tín vô cơ sẽ có nguy cơ bị ngộ độc nhiều gấp 3 lần so với người lớn do thể trọng của trẻ ít hơn rất nhiều so với người lớn
Tổ chức Y tế Thế giới cũng đã tạm dừng khuyến nghị về lượng thạch tín trong thực phẩm vì ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng dù chỉ 1 lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư.
Cơ quan Tiêu chuẩn thực phẩm Anh cũng đang làm việc với Ủy ban châu Âu thiết lập giới hạn an toàn mới về những rủi ro do tiếp xúc lâu dài. Ví như việc tiếp xúc với cadmium tối đa là 2,5 microgram/kg trọng lượng cơ thể trong mỗi tuần.
EFSA gần đây cũng đã khẳng định rằng tiêu chuẩn hàng tuần về sự tiếp xúc với chì là 25 microgram/kg trọng lượng cơ thể đã không còn phù hợp.
Nếu cha mẹ lo lắng?
Các mức độ của những chất gây ô nhiễm tìm thấy trong các loại thực phẩm cho trẻ em đã được thử nghiệm là khá thấp và vẫn ở trong mức an toàn do Ủy ban châu Âu đặt ra hiện nay. Tuy nhiên, các nhà khoa học cảnh báo, nguy cơ đối với trẻ sơ sinh khó xác định chính xác vì thế tốt nhất là nên thận trọng. Họ đề nghị không cho trẻ ăn các loại thực phẩm gạo trên cho đến khi trẻ ngoài 6 tháng tuổi cho biết cho con bú trong giai đoạn này sẽ giúp bảo vệ trẻ khỏi tình trạng phơi nhiễm các chất độc sớm.
Nhân Hà
Theo Telegraph
